9well Growth 360° · chiều cao và nội tiết tăng trưởng · về 9well
Kiểm tra 3 phút

Nhận biết trẻ chậm lớn

Bảng chiều cao cân nặng chuẩn của trẻ 2–18 tuổi theo WHO: cách đọc và khi nào cần lo

Đội ngũ chuyên môn 9well Growth 360° biên soạn từ hướng dẫn y khoa · Cập nhật 29/10/2026 · 7 phút đọc

Phụ huynh và chuyên gia mặc áo blouse trắng cùng xem bảng biểu đồ tăng trưởng in trên bàn
Ảnh minh hoạ. Bảng chuẩn WHO là điểm so sánh, còn đường tăng trưởng qua nhiều lần đo mới cho biết con có đang lớn ổn hay không.
Tóm tắt nhanh

Bảng chiều cao cân nặng chuẩn của trẻ theo WHO cho biết số trung vị và mốc −2SD theo tuổi, giới. Ví dụ ở 10 tuổi, chiều cao trung vị là 137,8 cm (trai) và 138,6 cm (gái); dưới 125,0 cm (trai) hoặc 125,8 cm (gái) là dưới mốc −2SD. Trẻ 0–5 tuổi dùng WHO Child Growth Standards, trẻ 5–19 tuổi dùng WHO Growth Reference 2007; cân nặng theo tuổi chỉ có đến 10 tuổi, sau đó dùng BMI theo tuổi. Nên đưa con đi khám khi chiều cao dưới mốc −2SD, tụt bách phân vị hoặc lớn dưới 5 cm/năm trước dậy thì.

Bảng chiều cao cân nặng chuẩn của trẻ dùng để làm gì?

Bảng chiều cao cân nặng chuẩn của trẻ theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết chiều cao, cân nặng trung vị của trẻ cùng tuổi, cùng giới, và mốc −2 độ lệch chuẩn (−2SD). Trẻ có chiều cao thấp hơn mốc −2SD (gần bách phân vị 3) được xếp là thấp so với tuổi và nên được bác sĩ đánh giá (Barstow & Rerucha, AAFP 2015). Một lần đo chỉ là một điểm; điều bác sĩ quan tâm hơn là con có giữ được đường tăng trưởng của mình qua nhiều lần đo hay không (AAP, HealthyChildren.org).

Bảng dưới đây ghép hai bộ số liệu của WHO: WHO Child Growth Standards cho trẻ 0–5 tuổi, xây dựng từ Nghiên cứu đa trung tâm (MGRS) 1997–2003 với khoảng 8.500 trẻ ở Brazil, Ghana, Ấn Độ, Na Uy, Oman và Mỹ; và WHO Growth Reference 2007 cho trẻ 5–19 tuổi, được hiệu chỉnh để nối liền với chuẩn 0–5 tuổi tại mốc 5 tuổi (WHO; de Onis, Bull WHO 2007).

Bảng chiều cao chuẩn của trẻ 2–18 tuổi (cm)

Tuổi (tròn)Trai: trung vịTrai: mốc −2SDGái: trung vịGái: mốc −2SD
2 tuổi87,181,085,779,3
3 tuổi96,188,795,187,4
4 tuổi103,394,9102,794,1
5 tuổi110,0100,7109,499,9
6 tuổi116,0106,1115,1104,9
7 tuổi121,7111,2120,8109,9
8 tuổi127,3116,0126,6115,0
9 tuổi132,6120,5132,5120,3
10 tuổi137,8125,0138,6125,8
11 tuổi143,1129,7145,0131,7
12 tuổi149,1134,9151,2137,6
13 tuổi156,0141,2156,4142,5
14 tuổi163,2147,8159,8145,9
15 tuổi169,0153,3161,7147,9
16 tuổi172,9157,4162,5148,9
17 tuổi175,2159,9162,9149,5
18 tuổi176,1161,2163,1149,8

Nguồn: WHO Child Growth Standards (2–5 tuổi, chiều cao đo đứng) và WHO Growth Reference 2007 (6–18 tuổi), tính từ bảng tham số LMS chính thức của WHO (gói anthroplus của WHO); số làm tròn 0,1 cm, tại đúng ngày sinh nhật.

Ví dụ đọc bảng: bé trai tròn 10 tuổi có chiều cao trung vị 137,8 cm; nếu con thấp hơn 125,0 cm thì đang dưới mốc −2SD. Bé gái tròn 10 tuổi trung vị 138,6 cm, mốc −2SD là 125,8 cm. Bé gái cao vượt bé trai quanh 10–13 tuổi là bình thường vì bé gái thường dậy thì sớm hơn; sau đó bé trai vượt lên và tới 18 tuổi trung vị chênh khoảng 13 cm (176,1 so với 163,1 cm).

Bàn tay người lớn kéo thanh chặn đầu của thước đo chiều cao gắn tường
Đo bằng thước gắn tường, đứng thẳng, bỏ giày cho số đo chính xác hơn thước dây.

Bảng cân nặng chuẩn của trẻ 2–10 tuổi (kg)

Tuổi (tròn)Trai: trung vịTrai: mốc −2SDGái: trung vịGái: mốc −2SD
2 tuổi12,29,711,59,0
3 tuổi14,311,313,910,8
4 tuổi16,312,716,112,3
5 tuổi18,314,118,213,7
6 tuổi20,515,920,215,3
7 tuổi22,917,722,416,8
8 tuổi25,419,525,018,6
9 tuổi28,121,328,220,8
10 tuổi31,223,231,923,3

Nguồn: WHO Child Growth Standards (2–5 tuổi) và WHO Growth Reference 2007 — cân nặng theo tuổi (5–10 tuổi); số làm tròn 0,1 kg.

WHO 2007 chỉ công bố cân nặng theo tuổi đến 10 tuổi; từ 5 đến 19 tuổi, WHO dùng BMI theo tuổi để đánh giá gầy hay thừa cân (WHO — Growth reference 5–19 years). Lý do dễ hiểu: ở tuổi dậy thì, cân nặng phụ thuộc nhiều vào chiều cao và thời điểm dậy thì, nên so cân nặng với tuổi không còn nói lên nhiều điều. Với trẻ trên 10 tuổi, bố mẹ nên nhìn chiều cao theo tuổi và BMI theo tuổi.

Đọc thêm trong cụm: Cách đo chiều cao cho trẻ tại nhà: 5 bước đo đúng, sai số hay gặp và cách tính tốc độ lớn; Chiều cao trung bình người Việt Nam là bao nhiêu? Số liệu nam, nữ và trẻ em theo tuổi.

Cách đọc bảng cho đúng

  • Trung vị không phải "mức phải đạt". Một nửa số trẻ khoẻ mạnh thấp hơn trung vị. Con ở dưới trung vị nhưng trên mốc −2SD và lớn đều vẫn nằm trong vùng bình thường.
  • Mốc −2SD là ngưỡng sàng lọc, không phải chẩn đoán. Theo AAFP, thấp lùn được định nghĩa là chiều cao dưới trung bình hơn 2 độ lệch chuẩn (dưới bách phân vị 3); xem thêm ở bài trẻ thấp bao nhiêu là bất thường.
  • Tuổi ở bảng là tuổi tròn. Con 7 tuổi 6 tháng nên được so ở khoảng giữa mốc 7 và 8 tuổi; công cụ tính theo tháng sẽ chính xác hơn.
  • So với bố mẹ. Trẻ có bố mẹ thấp thường cũng ở đường thấp. Bạn có thể tính mốc tham chiếu bằng công thức tính chiều cao di truyền; theo AAFP, phần lớn trẻ đạt chiều cao trưởng thành trong khoảng 10 cm quanh chiều cao trung bình bố mẹ.
  • Nhìn đường, không nhìn điểm. AAP khuyên theo dõi sự tăng trưởng qua khoảng 6 tháng, vì một lần đo không kể hết câu chuyện.
Người bố ghi số đo vào sổ, cạnh thước dây và cân sức khoẻ trên bàn gỗ
Đo cùng giờ, cùng thước, cùng người đo giúp các lần đo so sánh được với nhau.

Cách đo chiều cao, cân nặng tại nhà

  1. Chiều cao: đo buổi sáng, bỏ giày, tháo kẹp tóc. Con đứng thẳng, hai gót chân chụm, gót, mông, vai và đầu chạm tường; mắt nhìn thẳng.
  2. Đặt ê-ke hoặc quyển sách cứng vuông góc với tường, áp nhẹ lên đỉnh đầu, đánh dấu rồi đo bằng thước kim loại. Đo 2–3 lần liền nhau và lấy số trung bình.
  3. Cân nặng: cân buổi sáng trước ăn, sau khi đi vệ sinh, mặc quần áo mỏng, dùng cùng một cái cân.
  4. Ghi ngày đo, số đo, người đo. Trẻ dưới 2 tuổi được đo nằm (chiều dài), từ 2 tuổi đo đứng (AAP, HealthyChildren.org).

Sau đó nhập số đo vào Kiểm tra 3 phút để xem con đang ở bách phân vị nào. Nếu có từ 2 lần đo cách nhau ít nhất 6 tháng, bạn tính được tốc độ tăng trưởng — chỉ số quan trọng không kém chiều cao.

Máy tính bảng hiển thị biểu đồ đường tăng trưởng trên bàn gỗ, cạnh tách cà phê
Đặt số đo của con lên biểu đồ giúp thấy con đang ở đường nào và có giữ được đường đó không.

Khi nào lệch khỏi bảng là đáng lo?

Tốc độ lớn bình thường theo AAFP: khoảng 8 cm/năm ở 2–3 tuổi, 7 cm/năm ở 3–5 tuổi, 5–6 cm/năm từ 5 tuổi đến trước dậy thì; khi dậy thì bé gái lớn 8–12 cm/năm, bé trai 10–14 cm/năm.

Khi nào cần đi khám:

  • Chiều cao dưới mốc −2SD trong bảng, nhất là khi thấp hơn hẳn so với chiều cao bố mẹ.
  • Đường chiều cao tụt xuống các bách phân vị thấp hơn qua các lần đo, ví dụ từ bách phân vị 25 xuống 5 (AAP).
  • Tốc độ lớn dưới 5 cm/năm trước tuổi dậy thì (AAFP 2015).
  • Chiều cao dự kiến thấp hơn chiều cao trung bình bố mẹ hơn 10 cm (AAFP 2015).
  • Bé trai 14 tuổi hoặc bé gái 13 tuổi chưa có dấu hiệu dậy thì (AAFP 2015).
  • Chậm cao nhưng lại tăng cân, kèm mệt mỏi, táo bón, da khô — cần nghĩ tới suy giáp.
  • Cân nặng dưới mốc −2SD, sụt cân, ăn kém kéo dài hoặc tiêu chảy kéo dài.

Phần lớn trẻ thấp nhưng lớn đều là biến thể bình thường như thấp lùn do gia đình hoặc chậm lớn thể tạng. Ngược lại, con lớn chậm dần qua từng năm mới là dấu hiệu cần tìm nguyên nhân, trong đó có thiếu hormone tăng trưởng. Khám và xét nghiệm nên thực hiện tại cơ sở y tế được cấp phép có chuyên khoa nội tiết nhi.

Việc làm ngay hôm nay

  1. Đo chiều cao và cân nặng của con theo đúng hướng dẫn ở mục Cách đo, ghi lại ngày đo.
  2. Dò bảng trên: con ở trên hay dưới mốc −2SD của tuổi và giới mình?
  3. Lục sổ khám, phiếu khám ở trường để tìm ít nhất 2 số đo cũ có ngày rõ ràng.
  4. Nhập toàn bộ số đo vào Kiểm tra 3 phút để xem đường tăng trưởng.
  5. Hỏi chiều cao thật của bố và mẹ để tính chiều cao mục tiêu.

Cách đo kết quả: trong 6 tháng tới, bạn có ít nhất 2 lần đo cùng cách và biết con đang giữ, tăng hay tụt bách phân vị; nếu con dưới mốc −2SD hoặc có một dấu hiệu trong hộp đỏ, bạn đã đặt lịch khám nội tiết nhi và mang theo sổ số đo.

Câu hỏi thường gặp

Con thấp hơn chiều cao trung vị trong bảng có phải là thấp còi không?
Không. Trung vị là mức giữa, một nửa số trẻ khoẻ mạnh thấp hơn mức này. Con chỉ được xem là thấp so với tuổi khi dưới mốc −2SD (gần bách phân vị 3), và bác sĩ còn xét thêm tốc độ lớn, chiều cao bố mẹ.
Vì sao bảng cân nặng chỉ có đến 10 tuổi?
WHO Growth Reference 2007 chỉ công bố cân nặng theo tuổi cho trẻ 5–10 tuổi. Từ 5 đến 19 tuổi, WHO dùng BMI theo tuổi để đánh giá gầy hay thừa cân. Với trẻ trên 10 tuổi, hãy xem chiều cao theo tuổi và BMI theo tuổi.
Nên dùng bảng WHO hay bảng của Việt Nam?
Bảng WHO là chuẩn quốc tế được dùng rộng rãi trong theo dõi tăng trưởng trẻ em, gồm chuẩn 0–5 tuổi xây dựng từ trẻ khoẻ mạnh ở 6 quốc gia và tham chiếu 5–19 tuổi năm 2007. Khi đi khám, bác sĩ sẽ chọn biểu đồ phù hợp; điều quan trọng là luôn so con trên cùng một bộ biểu đồ.
Bao lâu nên đo chiều cao cho con một lần?
AAP cho biết với trẻ lớn, theo dõi trong khoảng 6 tháng là khung thời gian thường dùng để thấy xu hướng. Vì vậy nên đo đều đặn, cùng cách đo, cùng thước, và so các lần đo cách nhau ít nhất 6 tháng.
Con 2 tuổi nên đo nằm hay đo đứng?
Trẻ dưới 2 tuổi được đo nằm (chiều dài), từ 2 tuổi trở lên đo đứng. Bảng chiều cao trong bài này dùng chiều cao đo đứng từ mốc 2 tuổi.
Con trên mốc −2SD nhưng tụt dần bách phân vị thì có sao không?
Có thể đáng lưu ý. Đường chiều cao tụt qua các bách phân vị, ví dụ từ 25 xuống 5, là dấu hiệu cảnh báo theo AAP dù con chưa dưới mốc −2SD. Nên mang các số đo đi khám nội tiết nhi tại cơ sở y tế được cấp phép.

Nguồn tham khảo

  1. WHO — Growth reference data for 5–19 years: Height-for-age (5–19 years)
  2. WHO — Child growth standards: WHO Multicentre Growth Reference Study (MGRS)
  3. de Onis M, et al. Development of a WHO growth reference for school-aged children and adolescents. Bull World Health Organ 2007;85(9):660–667
  4. World Health Organization — anthroplus (bảng tham số LMS WHO Growth Reference 2007)
  5. Barstow C, Rerucha C. Evaluation of Short and Tall Stature in Children. American Family Physician 2015;92(1):43–50
  6. American Academy of Pediatrics (HealthyChildren.org) — When a Child is Unusually Short
Về nội dung này

Bài viết do đội ngũ chuyên môn 9well Growth 360° biên soạn từ hướng dẫn của các hội nội tiết nhi, tài liệu y khoa và số liệu Viện Dinh dưỡng. Nội dung được đội ngũ chuyên gia 9well tham vấn chuyên môn. Bài mang tính giáo dục; chẩn đoán và điều trị cần bác sĩ chuyên khoa khám trực tiếp.