Nhận biết trẻ chậm lớn
Chiều cao trung bình người Việt Nam là bao nhiêu? Số liệu nam, nữ và trẻ em theo tuổi

Theo Tổng điều tra Dinh dưỡng 2019–2020 của Viện Dinh dưỡng Quốc gia (Bộ Y tế), chiều cao trung bình người Việt Nam tuổi 18 là 168,1 cm ở nam và 156,2 cm ở nữ; nam cao hơn 3,7 cm so với năm 2010. Mức này thấp hơn trung vị chuẩn WHO (176,1 cm và 163,1 cm) khoảng 1 độ lệch chuẩn nhưng vẫn trong vùng bình thường. Khác biệt chủ yếu do dinh dưỡng, bệnh tật và điều kiện sống, không chỉ do gen. Với trẻ em, hãy so con với chuẩn WHO theo tuổi: dưới −2SD hoặc lớn dưới 5 cm mỗi năm trước dậy thì là lúc nên đưa con đi khám.
Chiều cao trung bình người Việt Nam là bao nhiêu?
Theo Tổng điều tra Dinh dưỡng 2019–2020 do Viện Dinh dưỡng Quốc gia (Bộ Y tế) công bố tháng 4/2021, chiều cao trung bình người Việt Nam ở tuổi 18 là 168,1 cm với nam và 156,2 cm với nữ. So với năm 2010, nam thanh niên cao hơn 3,7 cm (SGGP; Vietnam News). Mức này vẫn thấp hơn trung vị chuẩn WHO khoảng 7–8 cm, nhưng nằm trong vùng bình thường.
Khảo sát gồm 22.400 hộ gia đình tại 25 tỉnh, thành (SGGP, 15/4/2021).
Chiều cao trung bình nam, nữ Việt Nam qua các mốc
| Mốc | Nam 18 tuổi | Nữ 18 tuổi |
|---|---|---|
| Năm 1985 | 159,8 cm | 150,5 cm |
| Năm 2010 | 164,4 cm | 153,4–154,8 cm* |
| Năm 2020 (Tổng điều tra 2019–2020) | 168,1 cm | 156,2 cm |
| Mục tiêu năm 2030 | 168,5 cm | 157,5 cm |
| Trung vị chuẩn WHO ở 18 tuổi | 176,1 cm | 163,1 cm |
| Ngưỡng −2SD của WHO ở 18 tuổi | 161,2 cm | 149,8 cm |
Nguồn: Viện Dinh dưỡng Quốc gia – Bộ Y tế, Tổng điều tra Dinh dưỡng 2019–2020 (qua SGGP 15/4/2021 và Vietnam News 16/4/2021); số năm 1985, mục tiêu 2030 theo VnExpress International 10/9/2025; chuẩn WHO: WHO Growth Reference 5–19 years, height-for-age. *Mốc nữ năm 2010 được các bản tin công bố khác nhau (154,8 cm theo SGGP và Vietnam News; 153,4 cm theo VnExpress).
Hai điều rút ra: người Việt đang cao lên rõ rệt, nam thanh niên cao hơn khoảng 8 cm so với năm 1985; và chiều cao trung bình vẫn thấp hơn trung vị WHO khoảng 1 độ lệch chuẩn (quanh bách phân vị 14) nhưng cao hơn hẳn ngưỡng −2SD. Người Việt trung bình không thấp bất thường; khoảng cách còn lại chủ yếu là tiềm năng chưa đạt hết.
VnExpress dẫn dữ liệu NCD-RisC: Việt Nam xếp hạng 153/201 quốc gia về chiều cao trung bình, tăng từ hạng 181 năm 2017.
Chiều cao trung bình trẻ em Việt Nam theo tuổi: so với mốc nào?
Chưa có bảng chiều cao trung bình trẻ em Việt Nam theo từng tuổi được công bố rộng rãi từ Tổng điều tra 2019–2020. Ngành dinh dưỡng Việt Nam đánh giá chiều cao theo tuổi của trẻ bằng quần thể tham chiếu WHO 2006 (Lê Thị Hợp, Huỳnh Nam Phương, Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2011). Vì vậy, hãy so con với chuẩn WHO, không so với "trung bình người Việt" vốn còn chứa cả trẻ thấp còi.
| Tuổi | Bé trai: trung vị | Bé trai: −2SD | Bé gái: trung vị | Bé gái: −2SD |
|---|---|---|---|---|
| 1 tuổi | 75,7 cm | 71,0 cm | 74,0 cm | 68,9 cm |
| 2 tuổi (đo đứng) | 87,1 cm | 81,0 cm | 85,7 cm | 79,3 cm |
| 3 tuổi | 96,1 cm | 88,7 cm | 95,1 cm | 87,4 cm |
| 4 tuổi | 103,3 cm | 94,9 cm | 102,7 cm | 94,1 cm |
| 6 tuổi | 116,0 cm | 106,1 cm | 115,1 cm | 104,9 cm |
| 8 tuổi | 127,3 cm | 116,0 cm | 126,6 cm | 115,0 cm |
| 10 tuổi | 137,8 cm | 125,0 cm | 138,6 cm | 125,8 cm |
| 12 tuổi | 149,1 cm | 134,9 cm | 151,2 cm | 137,6 cm |
| 14 tuổi | 163,2 cm | 147,8 cm | 159,8 cm | 145,9 cm |
| 16 tuổi | 172,9 cm | 157,4 cm | 162,5 cm | 148,9 cm |
Nguồn: WHO Child Growth Standards 2006 (0–5 tuổi) và WHO Growth Reference 2007 (5–19 tuổi), chỉ số chiều cao theo tuổi; làm tròn tới 0,1 cm.
Bảng theo tháng có ở bài bảng chiều cao cân nặng chuẩn của trẻ; cách đọc SD ở bài biểu đồ tăng trưởng WHO.
Nhiều trẻ Việt còn dưới mốc −2SD. Tỷ lệ thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi là 19,6% năm 2020, giảm từ 29,3% năm 2010; ở nhóm 5–19 tuổi là 14,8%, giảm từ 23,4% (Vietnam News; Viện Dinh dưỡng 2012).
Đọc thêm trong cụm: Bố mẹ cao mà con thấp: vì sao, bao nhiêu là bất thường và khi nào cần khám.

Lầm tưởng: "người Việt thấp do gen"
Gen quyết định phần lớn khác biệt giữa các cá nhân: MedlinePlus Genetics ước tính khoảng 80% chiều cao một người do biến thể DNA quyết định. Nhưng khác biệt giữa các quốc gia lại là chuyện khác. Ba bằng chứng:
- Gen không đổi trong 35 năm, nhưng nam thanh niên Việt đã cao hơn khoảng 8 cm so với năm 1985 (VnExpress). Thay đổi nhanh như vậy đến từ ăn uống, bệnh tật và điều kiện sống.
- Các nước châu Á khác cũng từng "thấp": nghiên cứu NCD-RisC trên 18,6 triệu người tại 200 quốc gia (eLife 2016) ghi nhận phụ nữ Hàn Quốc cao hơn 20,2 cm và nam giới Iran cao hơn 16,5 cm qua một thế kỷ; khác biệt giữa các quần thể được cho là do yếu tố môi trường.
- Trẻ khắp thế giới lớn giống nhau khi được chăm sóc tốt: nghiên cứu xây dựng chuẩn WHO trên hơn 8.000 trẻ ở 6 nước cho thấy trẻ ở bất cứ đâu, nếu có khởi đầu tối ưu, đều có tiềm năng lớn trong cùng một khoảng; dinh dưỡng, môi trường và y tế ảnh hưởng nhiều hơn gen hay dân tộc (WHO, 2006).
Kết luận: gen của gia đình đặt ra một khoảng tiềm năng cho con, còn chăm sóc quyết định con đạt tới đâu trong khoảng đó.
Yếu tố quyết định chiều cao người Việt
- Di truyền: tạo mốc tham chiếu cho từng gia đình. Bác sĩ dùng chiều cao bố mẹ để ước tính, xem bài công thức tính chiều cao di truyền.
- 1.000 ngày đầu đời (từ khi thụ thai tới 2 tuổi): WHO coi đây là giai đoạn quan trọng nhất với thấp còi. Dinh dưỡng của mẹ, sữa mẹ và ăn dặm đúng cách đều có vai trò.
- Thấp còi và bệnh tật: WHO cho biết nguyên nhân trực tiếp là ăn thiếu cùng nhiễm trùng tái diễn hoặc bệnh mạn tính, và thấp còi phần lớn không hồi phục hoàn toàn như cân nặng. Cách phân biệt thấp còi do dinh dưỡng với nguyên nhân nội tiết có ở bài thấp còi do dinh dưỡng hay nội tiết.
- Giấc ngủ: hormone tăng trưởng tiết mạnh trong giấc ngủ sâu. Ngủ đủ và đều hỗ trợ con lớn, xem bài giấc ngủ và chiều cao.
- Vận động: MedlinePlus nhận định một đứa trẻ được nuôi dưỡng tốt, khoẻ mạnh và năng động có nhiều khả năng cao hơn khi trưởng thành. Vận động hỗ trợ, không thay thế việc khám khi con lớn chậm.
NCD-RisC cũng nhấn mạnh dinh dưỡng và nhiễm trùng ở thời thơ ấu, tuổi dậy thì là yếu tố đặc biệt quan trọng. Cơ hội lớn nhất nằm ở giai đoạn con còn đang lớn.

Cách tự kiểm con có nằm trong vùng bình thường không
- Đo đúng: buổi sáng, bỏ giày, gót, mông, vai, đầu chạm tường, ê-ke áp lên đỉnh đầu; trẻ dưới 2 tuổi đo nằm.
- So với chuẩn WHO theo tuổi và giới: từ −2SD tới +2SD là vùng bình thường. Dưới −2SD là thấp (với trẻ dưới 5 tuổi gọi là thấp còi) và nên được bác sĩ đánh giá (WHO; AAFP 2015).
- Xem tốc độ lớn, quan trọng hơn một lần đo: theo AAFP, trẻ 3–5 tuổi lớn khoảng 7 cm mỗi năm, từ 5 tuổi tới trước dậy thì khoảng 5–6 cm mỗi năm. Chi tiết ở bài tốc độ tăng trưởng của trẻ.
- So với mốc gia đình: nhập chiều cao bố mẹ vào công cụ tính chiều cao dự kiến.
Trẻ ở bách phân vị 10 nhưng luôn giữ đường đó và khoẻ mạnh thường bình thường; trẻ tụt dần từ bách phân vị 50 xuống 10 thì đáng lo hơn, dù vẫn trên −2SD.
Khi nào cần đưa con đi khám
Khi nào cần đưa con đi khám:
- Chiều cao dưới −2SD so với chuẩn WHO theo tuổi và giới.
- Tốc độ lớn dưới 5 cm mỗi năm trước tuổi dậy thì (AAFP 2015).
- Chiều cao dự kiến thấp hơn chiều cao trung bình bố mẹ hơn 10 cm (AAFP 2015).
- Bé trai 14 tuổi, bé gái 13 tuổi chưa có dấu hiệu dậy thì (AAFP 2015).
- Trẻ sinh nhỏ so với tuổi thai chưa bắt kịp khi 2 tuổi (AAFP 2015).
- Biếng ăn kéo dài, hay ốm, sụt cân hoặc thân hình mất cân đối.
Khám và xét nghiệm nên thực hiện tại cơ sở y tế được cấp phép có chuyên khoa nhi hoặc nội tiết nhi. Mọi điều trị hormone chỉ thực hiện khi bác sĩ chuyên khoa có chỉ định. Sản phẩm dinh dưỡng chỉ hỗ trợ, không thay thế việc khám. Nếu con đã trưởng thành, đọc thêm bài sau 20 tuổi còn cao được không.
Việc làm ngay hôm nay
- Đo chiều cao của con theo cách đo chuẩn ở trên và ghi ngày đo.
- Đo chiều cao thật của bố và mẹ, nhập vào công cụ chiều cao dự kiến.
- Đối chiếu số đo của con với bảng WHO theo tuổi và giới: con đang trên hay dưới mốc −2SD?
- Tìm ít nhất 2 số đo cũ có ngày rõ ràng (sổ tiêm chủng, phiếu khám ở trường) và nhập vào Kiểm tra 3 phút.
Cách đo kết quả: sau 6 tháng, bạn có ít nhất 2 lần đo cùng cách, biết con đang ở vùng nào so với chuẩn WHO và tính được tốc độ lớn; nếu con dưới −2SD, lớn chậm hơn ngưỡng theo tuổi hoặc có một dấu hiệu trong hộp đỏ, bạn đã đặt lịch khám tại cơ sở y tế được cấp phép.
Câu hỏi thường gặp
Chiều cao trung bình người Việt Nam hiện nay là bao nhiêu?
Chiều cao trung bình nam Việt Nam là bao nhiêu?
Chiều cao trung bình nữ Việt Nam là bao nhiêu?
Chiều cao trung bình trẻ em Việt Nam theo tuổi xem ở đâu?
Người Việt thấp có phải do gen không?
Con thấp hơn chiều cao trung bình có cần đi khám không?
Nguồn tham khảo
- Sài Gòn Giải Phóng (15/4/2021). Sau 10 năm, chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam tăng 3,7 cm — kết quả Tổng điều tra Dinh dưỡng toàn quốc 2019–2020, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Bộ Y tế
- Vietnam News (16/4/2021). Vietnamese people growing taller but childhood obesity a concern, survey reveals (National General Nutrition Survey 2019–20)
- VnExpress International (10/9/2025). Vietnamese population growing taller as nutrition improves steadily
- Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế (2012). Kết quả chủ yếu Tổng điều tra Dinh dưỡng 2009–2010 (Main findings of the General Nutrition Survey)
- Lê Thị Hợp, Huỳnh Nam Phương. Thống nhất về phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng nhân trắc học. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2011;7(2)
- World Health Organization — Growth reference data for 5–19 years: Height-for-age
- World Health Organization (27/4/2006). WHO releases new child growth standards
- World Health Organization (19/11/2015). Stunting in a nutshell
- NCD Risk Factor Collaboration (NCD-RisC). A century of trends in adult human height. eLife 2016;5:e13410
- MedlinePlus Genetics (U.S. National Library of Medicine) — Is height determined by genetics?
- Barstow C, Rerucha C. Evaluation of Short and Tall Stature in Children. American Family Physician 2015;92(1):43–50
Bài viết do đội ngũ chuyên môn 9well Growth 360° biên soạn từ hướng dẫn của các hội nội tiết nhi, tài liệu y khoa và số liệu Viện Dinh dưỡng. Nội dung được đội ngũ chuyên gia 9well tham vấn chuyên môn. Bài mang tính giáo dục; chẩn đoán và điều trị cần bác sĩ chuyên khoa khám trực tiếp.